Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Đăng lúc Chủ nhật - 15/03/2026 23:56 bởi
Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử

Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về công tác bầu cử bao gồm Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử. Theo đó:

Hội đồng bầu cử quốc gia giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội; chuyển giao hồ sơ, khiếu nại, tố cáo liên quan đến những người trúng cử đại biểu Quốc hội cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khoản 9 Điều 15).

Trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội của Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử; khiếu nại, tố cáo về bầu cử đại biểu Quốc hội do Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử chuyển đến; khiếu nại, tố cáo về người ứng cử đại biểu Quốc hội (điểm h khoản 1 Điều 23).

Trong việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử ở các cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình, Tổ bầu cử; khiếu nại, tố cáo về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình do Ban bầu cử, Tổ bầu cử chuyển đến; khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, việc lập danh sách người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình (điểm n khoản 2 Điều 23).

Ban Bầu cử có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện công tác bầu cử của các Tổ bầu cử và khiếu nại, tố cáo về bầu cử do các Tổ bầu cử chuyển đến; nhận và chuyển đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh khiếu nại, tố cáo về người ứng cử đại biểu Quốc hội; nhận và chuyển đến Ủy ban bầu cử tương ứng khiếu nại, tố cáo về người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân (điểm e khoản 3 Điều 24).

Tổ bầu cử có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ bầu cử quy định tại Điều này; nhận và chuyển đến Ban bầu cử tương ứng khiếu nại, tố cáo về người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, khiếu nại, tố cáo khác không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tổ bầu cử (điểm e khoản 2 Điều 25).

Khiếu nại, tố cáo liên quan đến chủ thể tham gia bầu cử

Liên quan đến các chủ thể tham gia bầu cử, khiếu nại, tố cáo có thể phát sinh chủ yếu trong các trường hợp sau:

- Khiếu nại, tố cáo liên quan đến người ứng cử, lập danh sách người ứng cử, người trúng cử và việc xác nhận tư cách đại biểu. Cụ thể, Điều 61 quy định về khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, lập danh sách người ứng cử, Điều 81 quy định về xác nhận tư cách của người trúng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Các quy định này có ý nghĩa thiết lập cơ chế bảo đảm tính hợp pháp, minh bạch và chính danh của đại biểu dân cử, đồng thời thể hiện rõ nguyên tắc dân chủ, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình trong tổ chức bầu cử.

- Khiếu nại về danh sách cử tri. Theo Điều 33 Luật Bầu cử, khi kiểm tra danh sách cử tri, nếu phát hiện có sai sót thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày niêm yết, công dân có quyền khiếu nại với cơ quan lập danh sách cử tri. Cơ quan lập danh sách cử tri phải ghi vào sổ những khiếu nại đó. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, cơ quan lập danh sách cử tri phải giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết kết quả giải quyết. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý về kết quả giải quyết khiếu nại hoặc hết thời hạn giải quyết mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, khiếu nại, tố cáo có thể phát sinh ở một số khâu chủ yếu sau:

- Khiếu nại, tố cáo về vận động bầu cử. Theo khoản 1 Điều 62 Luật Bầu cử, việc vận động bầu cử phải bảo đảm đúng nội dung, hình thức và giới hạn theo quy định của pháp luật. Các hành vi vi phạm trong vận động bầu cử có thể là đối tượng của khiếu nại, tố cáo và được xem xét, xử lý theo trình tự luật định.

- Khiếu nại, tố cáo về việc kiểm phiếu. Theo Điều 75 Luật Bầu cử, khiếu nại, tố cáo tại chỗ đối với các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong quá trình kiểm phiếu do Tổ bầu cử tiếp nhận, giải quyết và ghi nội dung giải quyết vào biên bản. Trường hợp không giải quyết được, Tổ bầu cử phải ghi rõ ý kiến của mình và chuyển hồ sơ đến Ban bầu cử để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

- Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về bầu cử bổ sung. Điều 94 Luật Bầu cử quy định đối với bầu cử bổ sung, việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị được thực hiện theo các quy định tương ứng của Luật Bầu cử, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ trong áp dụng pháp luật.

Từ các quy định nêu trên có thể thấy, pháp luật hiện hành đã thiết lập khung pháp lý cho việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử, xác định tương đối rõ các chủ thể có thẩm quyền cũng như những nội dung có thể phát sinh khiếu nại, tố cáo liên quan đến chủ thể tham gia bầu cử và các khâu của quá trình tổ chức bầu cử.

(Ảnh: Internet)

Nguồn tin: danchuphapluat.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bài viết cùng chuyên mục
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây