Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Đăng lúc Chủ nhật - 12/04/2026 23:36 bởi
Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.

Đặt vấn đề

Chức năng cơ bản quan trọng nhất của Quốc hội tại bất kỳ quốc gia nào trên thế giới là thực hiện quyền lập pháp. Việc xây dựng kế hoạch/chương trình nhằm thực hiện quyền lập pháp có ý nghĩa rất quan trọng. Trên cơ sở quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 (Luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 ngày 25/6/2025) (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025) và thực tiễn triển khai công tác xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội thời gian qua, bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.

1. Quá trình đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng chương trình lập pháp của Quốc hội

Văn bản pháp luật đầu tiên đánh dấu bước phát triển của việc xây dựng quy trình trong hoạt động lập pháp của Quốc hội nói chung là Nghị quyết số 91/NQ/HĐNN8 ngày 06/8/1988 phê chuẩn Quy chế xây dựng luật và pháp lệnh do Hội đồng Nhà nước ban hành. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn việc thực hiện Quy chế này, năm 1996, Quốc hội thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó, quy định cụ thể quy trình lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ và hằng năm. Khắc phục các tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), Quốc hội khóa XII ban hành Luật Ban hành VBQPPL năm 2008, quy định Quốc hội xem xét, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) có quyền xem xét, quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm; Quốc hội khóa XIII ban hành Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, quy định Quốc hội xem xét, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm, UBTVQH có quyền xem xét, quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm.

Triển khai thực hiện chương trình công tác của Bộ Chính trị khóa XIII, năm 2021, UBTVQH xây dựng Đề án định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV trình Bộ Chính trị xem xét, quyết định. Trên cơ sở Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị về định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV (Kết luận số 19-KL/TW), UBTVQH đã ban hành Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15 ngày 05/11/2021 triển khai thực hiện Kết luận số 19-KL/TW (Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15) và Kế hoạch số 734/KH-UBTVQH15 ngày 22/01/2024 bổ sung Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15 (Kế hoạch số 734/KH-UBTVQH15) xác định 156 nhiệm vụ lập pháp cần nghiên cứu, rà soát để kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất xây dựng mới luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, UBTVQH trong khóa XV.

Trên cơ sở định hướng chương trình lập pháp của Quốc hội khóa XV, yêu cầu thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, tính đến hết ngày 12/9/2025, Quốc hội đã ban hành 04 nghị quyết về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh các năm 2022, 2023, 2024 và 2025, UBTVQH ban hành 33 nghị quyết điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh các năm thuộc nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV. Theo đó, tính đến hết tháng 8/2025, Quốc hội, UBTVQH khóa XV đã ban hành 01 nghị quyết sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, 99 luật, 08 pháp lệnh và nhiều nghị quyết quy phạm pháp luật, trong số đó có 103 văn bản là kết quả thực hiện nhiệm vụ lập pháp được đề ra trong Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15 và Đề án định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; Kế hoạch số 734/KH-UBTVQH15. Như vậy, có thể thấy, vai trò quan trọng của định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV với kết quả thực hiện công tác lập pháp của Quốc hội, UBTVQH.

Trên cơ sở các nhiệm vụ được đề ra trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ đạo của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật, đặc biệt là yêu cầu của Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới và kết quả thực hiện định hướng nhiệm kỳ khóa XV, ngày 20/01/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 119-KL/TW về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật với mục tiêu tạo lập hệ thống pháp luật hoàn thiện, bảo đảm nền tảng pháp lý vững chắc, tạo động lực mạnh mẽ, bứt phá cho phát triển, góp phần hoàn thành thắng lợi các mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đề ra đưa đất nước vững bước tiến vào “kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Để thực hiện thành công mục tiêu này, đòi hỏi phải đổi mới tư duy về xây dựng pháp luật, đổi mới mạnh mẽ quy trình xây dựng pháp luật theo hướng chuyên nghiệp, khoa học, kịp thời, khả thi, hiệu quả. Trong đó, Bộ Chính trị yêu cầu đổi mới mạnh mẽ việc xây dựng chương trình lập pháp của Quốc hội theo hướng vừa có chiến lược, định hướng dài hạn, vừa có chương trình hằng năm linh hoạt, bám sát thực tiễn cuộc sống; xây dựng định hướng chương trình lập pháp cho mỗi nhiệm kỳ Quốc hội trình Bộ Chính trị xem xét quyết định, trên cơ sở đó xây dựng chương trình lập pháp hằng năm; chuyển thẩm quyền quyết định chương trình lập pháp hằng năm từ Quốc hội sang UBTVQH; giảm tối đa thời gian, đơn giản hóa thủ tục trong việc lập, điều chỉnh chương trình lập pháp hằng năm; tách quy trình xây dựng chính sách ra khỏi việc xây dựng chương trình lập pháp.

Thể chế hóa yêu cầu này, thay vì quy định chương trình xây dựng luật, pháp luật nhiệm kỳ và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm do Quốc hội quyết định, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9 và Kỳ họp thứ 9, Quốc hội đã thông qua Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định việc xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội do UBTVQH thực hiện để trình cơ quan có thẩm quyền quyết định và giao UBTVQH quyết định chương trình lập pháp hằng năm.

Quy định mới của Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 tạo thế chủ động cho các chủ thể đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết thực hiện theo định hướng lập pháp cả nhiệm kỳ gắn với thực tiễn triển khai công tác xây dựng pháp luật của từng năm, góp phần thực hiện thành công chức năng lập pháp của Quốc hội trong mỗi nhiệm kỳ.

Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành VBQPPL (Nghị định số 78/2025/NĐ-CP) và Nghị định số 187/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP (Nghị định số 187/2025/NĐ-CP), trong đó, quy định chi tiết về lập đề xuất của Chính phủ về định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội, chương trình lập pháp hằng năm.

Tuy nhiên, nghị định của Chính phủ chỉ điều chỉnh trong phạm vi lĩnh vực phụ trách của Chính phủ, trong khi, các chủ thể tham gia vào xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội gồm: UBTVQH, Chủ tịch nước, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của mặt trận, đại biểu Quốc hội.

Ngoài ra, triển khai thực hiện Luật Ban hành VBQPPL năm 2025, ngày 28/3/2025, UBTVQH ban hành Văn bản số 1239/UBTVQH15-PLTP và 1240/UBTVQH15-PLTP lưu ý một số vấn đề trong triển khai thi hành Luật, trong đó có nội dung xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và chương trình lập pháp hằng năm.

2. Quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội

Theo Điều 23 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025, việc xác định quy trình, thủ tục xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội như sau:

Một là, về chủ thể trình: có 10 nhóm chủ thể có quyền trình đề xuất nhiệm vụ lập pháp, gồm: (i) UBTVQH; (ii) Chủ tịch nước; (iii) Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; (iv) Chính phủ (Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký tờ trình, báo cáo UBTVQH đề xuất của Chính phủ về định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội); (v) Tòa án nhân dân tối cao; (vi) Viện kiểm sát nhân dân tối cao; (vii) Kiểm toán nhà nước; (viii) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; (ix) Cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của mặt trận; (x) Đại biểu Quốc hội.

Hai là, về thời gian gửi đề xuất nhiệm vụ lập pháp, gồm các mốc sau: các chủ thể gửi đến UBTVQH trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ họp đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội. Bộ, cơ quan ngang bộ gửi đến Bộ Tư pháp: thời hạn theo đề nghị của Bộ Tư pháp và phải bảo đảm Bộ Tư pháp có đủ thời gian xây dựng đề xuất của Chính phủ để trình Chính phủ xem xét trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ họp đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội. Chính phủ xem xét, thông qua đề xuất của Chính phủ về định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội theo Quy chế làm việc của Chính phủ để trình UBTVQH trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ họp đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội.

Ba là, nơi nhận đề xuất nhiệm vụ lập pháp: UBTVQH nhận đề xuất của 10 nhóm chủ thể nêu trên; Bộ Tư pháp nhận đề xuất của bộ, cơ quan ngang bộ để tổng hợp xây dựng đề xuất của Chính phủ gửi UBTVQH.

Bốn là, căn cứ xây dựng đề xuất nhiệm vụ lập pháp: có 04 căn cứ gồm: (i) chủ trương, đường lối của Đảng, các định hướng, kết luận của cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước; (ii) kết quả thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội nhiệm kỳ trước, yêu cầu tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; (iii) vấn đề mới, xu hướng mới cần có pháp luật điều chỉnh; (iv) yêu cầu giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn.

Năm là, nội dung đề xuất nhiệm vụ lập pháp gồm: (i) tờ trình; (ii) danh mục nhiệm vụ lập pháp, trong đó nêu rõ căn cứ, nội dung cần được nghiên cứu, rà soát, thể chế hóa; (iii) dự kiến thời hạn hoàn thành việc nghiên cứu, rà soát; (iv) thời hạn cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH (nếu có).

Sáu là, chủ thể xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội là: UBTVQH chủ trì, phối hợp với Chính phủ xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội.

Bảy là, thời hạn hoàn thành việc xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội: trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ họp đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội.

Tám là, nội dung định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội gồm 03 nhóm chính: (i) danh mục các nhiệm vụ lập pháp, trong đó xác định cụ thể yêu cầu về việc rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc nghiên cứu, đề xuất ban hành mới luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH; (ii) cơ quan chủ trì thực hiện; (iii) thời gian hoàn thành việc nghiên cứu, rà soát được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên hằng năm của nhiệm kỳ Quốc hội.

Chín là, chủ thể phê duyệt định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền của Đảng.

Mười là, chủ thể triển khai thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội: Khoản 5 và khoản 6 Điều 23 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định UBTVQH ban hành kế hoạch triển khai thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội ngay sau khi được phê duyệt; Chính phủ và cơ quan, tổ chức được UBTVQH giao thực hiện các nhiệm vụ lập pháp ban hành kế hoạch thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội.

Theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng, trình Chính phủ ban hành kế hoạch thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội.

Bên cạnh đó, qua rà soát tới thời điểm hiện nay, ngoài Chính phủ chưa có chủ thể nào quy định việc triển khai thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội. Tham khảo các văn bản triển khai thực hiện định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV được Bộ Chính trị thông qua ngày 14/10/2021, có thể UBTVQH sẽ phân công, quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức ban hành kế hoạch triển khai thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội[1].

Mười một là, việc điều chỉnh nhiệm vụ lập pháp: UBTVQH xem xét, quyết định điều chỉnh kế hoạch triển khai thực hiện khi phát sinh các nhiệm vụ lập pháp mới. 10 nhóm chủ thể có quyền trình đề xuất nhiệm vụ lập pháp gửi đề xuất đến UBTVQH để xem xét, quyết định việc điều chỉnh. Các bộ, cơ quan ngang bộ đề xuất gửi Bộ Tư pháp tổng hợp, trình Chính phủ xem xét, báo cáo UBTVQH quyết định điều chỉnh kế hoạch triển khai thực hiện.

Mười hai là, việc theo dõi kết quả triển khai thực hiện định hướng: 10 nhóm chủ thể có quyền trình đề xuất nhiệm vụ lập pháp gửi báo cáo kết quả triển khai thực hiện các nhiệm vụ lập pháp theo quy định tại kế hoạch triển khai do UBTVQH ban hành. Các bộ, cơ quan ngang bộ triển khai kế hoạch đã được Chính phủ phân công và gửi báo cáo kết quả triển khai kế hoạch đến Bộ Tư pháp để tổng hợp, báo cáo Chính phủ.

3. Quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội

Theo các điều 24, 25 và 26 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, Nghị định số 187/2025/NĐ-CP của Chính phủ, quy trình lập chương trình lập pháp hằng năm như sau:

Một là, về chủ thể trình: tương đồng với chủ thể có quyền trình đề xuất nhiệm vụ lập pháp, chủ thể có quyền trình đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm 10 nhóm: (i) UBTVQH; (ii) Chủ tịch nước; (iii) Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; (iv) Chính phủ (Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký tờ trình, gửi UBTVQH đề xuất của Chính phủ về chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội); (v) Tòa án nhân dân tối cao; (vi) Viện kiểm sát nhân dân tối cao; (vii) Kiểm toán nhà nước; (viii) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; (ix) Cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của mặt trận; (x) Đại biểu Quốc hội.

Hai là, về thời gian gửi đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết gồm các mốc: các chủ thể gửi đến UBTVQH: trước ngày 01/8 hằng năm để đưa vào chương trình lập pháp của năm tiếp theo. Bộ, cơ quan ngang bộ gửi đến Bộ Tư pháp trước ngày 01/6 hằng năm để tổng hợp báo cáo Chính phủ. Chính phủ xem xét, thông qua đề xuất của Chính phủ về chương trình lập pháp hằng năm trước ngày 15/7 của năm trước.

Ba là, nơi nhận đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh: UBTVQH (gửi đến Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp để tổng hợp, báo cáo) nhận đề xuất của 10 nhóm chủ thể nêu trên; Bộ Tư pháp nhận đề xuất của bộ, cơ quan ngang bộ để tổng hợp xây dựng đề xuất của Chính phủ gửi UBTVQH.

Bốn là, căn cứ xây dựng đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết: định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội hoặc yêu cầu giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn (nếu có).

Năm là, tờ trình đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết: gửi bằng bản điện tử và 01 bản giấy, trong đó nêu rõ sự cần thiết, mục đích ban hành; phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; các vấn đề cụ thể để xử lý mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập có nguyên nhân từ pháp luật; vấn đề mới, xu hướng mới và các nội dung cần thiết khác (nếu có); thời gian dự kiến trình và thông qua.

Sáu là, chủ thể xây dựng tờ trình chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội: Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có ý kiến về nội dung đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết theo lĩnh vực phụ trách. Trong đó, cho ý kiến về nội dung trong tờ trình đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết do các chủ thể đề xuất; thứ tự ưu tiên và thời gian trình Quốc hội, UBTVQH. Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp chủ trì, phối hợp với cơ quan trình, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội xây dựng tờ trình dự kiến chương trình lập pháp hằng năm.

Bảy là, chủ thể thông qua chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội: UBTVQH thông qua bằng nghị quyết và gửi đến đại biểu Quốc hội. Riêng đối với đề xuất xây dựng pháp lệnh mà nội dung chưa được Quốc hội giao thì UBTVQH báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.

Tám là, thời hạn ban hành nghị quyết chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội: trước ngày 01/10 hằng năm, UBTVQH thông qua nghị quyết về chương trình lập pháp của Quốc hội năm tiếp theo.

Chín là, nội dung của nghị quyết về chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội bao gồm: (i) tên luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH; (ii) cơ quan trình; (ii) cơ quan thẩm tra; (iv) thời gian dự kiến trình theo kỳ họp của Quốc hội, phiên họp của UBTVQH.

Mười là, việc triển khai thực hiện chương trình lập pháp hằng năm: UBTVQH có trách nhiệm chỉ đạo việc triển khai thực hiện chương trình lập pháp hằng năm. Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp chủ trì giúp UBTVQH triển khai. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức triển khai chương trình lập pháp hằng năm; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chương trình; hằng tháng báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình, tiến độ và những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình.

Cơ quan được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm bảo đảm tiến độ soạn thảo và chất lượng dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; định kỳ hằng tháng báo cáo và cập nhật thông tin về tình hình thực hiện chương trình, tình hình điều chỉnh chương trình, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết gửi Bộ Tư pháp trước ngày 25 hằng tháng để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Mười một là, việc điều chỉnh chương trình lập pháp hằng năm: Điều chỉnh chương trình lập pháp hằng năm là việc làm thường xuyên để đáp ứng yêu cầu thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong triển khai thi hành luật. Điểm mới nổi bật của Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 khi quy định cụ thể trường hợp cần bổ sung dự án trình Quốc hội sát với thời điểm diễn ra kỳ họp Quốc hội. Do đó, việc điều chỉnh chương trình được thực hiện theo 02 thủ tục khác nhau:

Thủ tục thứ nhất: áp dụng quy trình như lập chương trình lập pháp hằng năm đối với các đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết được gửi đến UBTVQH ngoài thời hạn 45 ngày, trước ngày dự kiến khai mạc kỳ họp. Lưu ý, đối với việc điều chỉnh chương trình lập pháp hằng năm, theo quy định tại Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, bộ, cơ quan ngang bộ chủ động xây dựng đề xuất gửi Bộ Tư pháp cho ý kiến trước khi trình Chính phủ, sau khi Chính phủ đồng ý đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ sẽ ký tờ trình đề xuất điều chỉnh chương trình lập pháp gửi UBTVQH (Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ ký tờ trình chương trình lập pháp hằng năm gửi UBTVQH trước ngày 01/8/2025 theo quy định tại Điều 24 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025).

Thủ tục thứ hai: áp dụng quy trình trình UBTVQH xem xét về nội dung dự án, đồng thời, quyết định việc bổ sung dự án vào chương trình kỳ họp gần nhất để trình Quốc hội xem xét, thông qua.

Theo hướng dẫn tại Công văn số 1240/UBTVQH15-PLTP ngày 28/3/2025 của UBTVQH và Thông báo số 3323/TB-VPQH ngày 11/9/2025 của Văn phòng Quốc hội, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025, trong vòng 45 ngày trước ngày dự kiến khai mạc kỳ họp Quốc hội các chủ thể không lập đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết đề nghị bổ sung vào chương trình lập pháp mà tập trung hoàn thiện hồ sơ dự án luật, nghị quyết theo quy định gửi các cơ quan của Quốc hội thẩm tra, trình UBTVQH xem xét, cho ý kiến, đồng thời, quyết định bổ sung vào chương trình kỳ họp nếu đáp ứng đủ điều kiện, trong đó, lưu ý không trình dự án sát ngày khai mạc kỳ họp, trừ trường hợp có vấn đề cấp bách phát sinh cần giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Như vậy, trong trường hợp này, cơ quan chủ trì soạn thảo không lập đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết mà tiến hành soạn thảo ngay dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết theo quy trình soạn thảo để trình UBTVQH xem xét cho ý kiến về nội dung, đồng thời, quyết định đưa vào chương trình kỳ họp của Quốc hội.

4. Một số lưu ý trong xây dựng chương trình lập pháp hằng năm

Một là, tờ trình đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết phải bám sát quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 và bảo đảm đủ các nội dung sau: (i) sự cần thiết, mục đích ban hành, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; (ii) các vấn đề cụ thể để xử lý mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập có nguyên nhân từ pháp luật; (iii) vấn đề mới, xu hướng mới và các nội dung cần thiết khác (nếu có); (iv) thời gian dự kiến trình và thông qua.

Hai là, chỉ đề nghị áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 để giải quyết vấn đề thực sự cấp bách, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn và gửi hồ sơ dự án đúng thời hạn để UBTVQH xem xét nội dung dự án luật, nghị quyết, đồng thời, quyết định việc bổ sung vào chương trình kỳ họp Quốc hội. Lưu ý, không trình dự án sát ngày khai mạc kỳ họp, trừ trường hợp có vấn đề cấp bách phát sinh cần giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Ba là, chỉ đề xuất việc áp dụng quy định soạn thảo dự án theo trình tự, thủ tục rút gọn khi đáp ứng yêu cầu tại khoản 1 Điều 50 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 và tuân thủ trình tự, thủ tục đề nghị áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn.

Kết luận

Có thể khẳng định, việc đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội là bước tiến quan trọng trong tiến trình nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động lập pháp. Những cải cách thể chế được thể hiện rõ nét trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra khuôn khổ pháp lý đồng bộ, chặt chẽ, chuyên nghiệp, bảo đảm tính chủ động, linh hoạt và gắn kết giữa định hướng chiến lược dài hạn với yêu cầu thực tiễn từng năm./.

ThS. Đặng Thị Thu Hiền

Vụ Pháp luật và Tư pháp, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội

Ảnh: Internet

[1]. Tương tự như Mục 3 Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15 ngày 05/11/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc về việc triển khai thực hiện Kết luận số 19-KL/TW của Bộ Chính trị và Đề án định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.

(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025” xuất bản năm 2025)

Nguồn tin: danchuphapluat.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây