Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp
Đặt vấn đề
Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác. Bên cạnh kết quả đạt được, công tác trợ giúp pháp lý còn tồn tại một số hạn chế như: hoạt động truyền thông về trợ giúp pháp lý ở một số địa phương chưa được chú trọng; dữ liệu cá nhân liên quan đến người thuộc diện được trợ giúp pháp lý chưa đồng bộ hóa vào dữ liệu điện tử, sự phối hợp giữa chính quyền, tổ chức còn thiếu tính kết nối, nhận thức của người dân còn hạn chế.
Hiện nay, Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách hành chính, lấy người dân làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hội nhập; giúp nâng cao dân trí, phòng ngừa và hạn chế vi phạm pháp luật, giảm tình trạng khiếu kiện vượt cấp, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
1. Một số vấn đề về trợ giúp pháp lý cho nhóm yếu thế
1.1. Khái niệm nhóm yếu thế
Hiện chưa có khái niệm đầy đủ, rõ ràng và thống nhất về người yếu thế trong văn bản quy phạm pháp luật, nhưng qua các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025), Luật Giao dịch điện tử năm 2023,… và dưới góc độ quan sát, có thể hiểu, người yếu thế là những cá nhân hoặc nhóm người có vị thế xã hội thấp, dễ bị tổn thương, gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Nhóm này gồm: người nghèo, người khuyết tật, người cao tuổi cô đơn, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ bị bạo lực, người dân tộc thiểu số, người nhiễm HIV/AIDS, nạn nhân của tệ nạn mua bán người và những người đang tái hòa nhập cộng đồng,…
1.2. Đặc điểm của trợ giúp pháp lý cho nhóm yếu thế
Trợ giúp pháp lý cho người yếu thế là chính sách mang tính xã hội đặc thù, khác với dịch vụ pháp lý thương mại do luật sư cung cấp có thu phí. Hoạt động trợ giúp pháp lý mang tính chất phục vụ cộng đồng, được Nhà nước bảo đảm kinh phí, nhằm bảo vệ quyền lợi cho người dân mà không đặt lợi nhuận làm mục đích.
Nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý và bảo đảm nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý (thông qua Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước trên cả nước); mọi hoạt động trợ giúp pháp lý phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng, vì trợ giúp pháp lý được đặt dưới sự quản lý của hệ thống trợ giúp pháp lý tổ chức từ trung ương đến địa phương (Bộ Tư pháp - Sở Tư pháp - Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước - các chi nhánh).
Các hình thức tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng hoặc tham gia tố tụng là sự kết hợp giữa việc truyền đạt, giải thích quy định của pháp luật và hỗ trợ pháp lý miễn phí cho người yếu thế. Hoạt động này không chỉ giúp người yếu thế trong vụ việc cụ thể, mà còn giúp họ nâng cao hiểu biết pháp luật, biết cách tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
1.3. Quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với nhóm yếu thế
Đảng và Nhà nước luôn nhất quán chủ trương xác định con người là trung tâm của sự phát triển, trong đó, bảo vệ, hỗ trợ và tạo điều kiện cho người dân, đặc biệt là nhóm yếu thế được xem là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thể hiện bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng về quyền con người và bảo đảm quyền công dân được Đảng khẳng định xuyên suốt qua các kỳ đại hội. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (2021) nhấn mạnh: “Phát triển con người toàn diện, xây dựng xã hội tiến bộ, công bằng, dân chủ, văn minh; chăm lo, bảo vệ, hỗ trợ các nhóm yếu thế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”. Quan điểm này thể hiện rõ định hướng phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển, “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) nêu rõ: “Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân” và đặt mục tiêu đến năm 2030: “Hoàn thiện cơ bản các cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”; “Hoàn thành cơ bản việc xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”. Đồng thời, Nghị quyết số 27-NQ/TW yêu cầu thể chế hóa và nội luật hóa đầy đủ các quy định của Hiến pháp và các điều ước quốc tế về quyền con người, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền đó.
Trên cơ sở định hướng của Đảng, các bản Hiến pháp qua từng thời kỳ không ngừng mở rộng và cụ thể hóa nội dung quyền con người và quyền công dân. Hiến pháp năm 1992 lần đầu khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) kế thừa và phát triển, nâng tầm bảo đảm quyền con người thành nguyên tắc hiến định: “Quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”[1].
Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, nhiều luật chuyên ngành trong hệ thống pháp luật Việt Nam được ban hành nhằm bảo vệ nhóm yếu thế như: Luật Người khuyết tật năm 2010, Luật Người cao tuổi năm 2009, Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Trẻ em năm 2016 và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Các chính sách hỗ trợ được thực thi thông qua các chương trình miễn phí tư vấn pháp luật, cấp thẻ bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội thường xuyên, hỗ trợ học phí, học bổng, đào tạo nghề, cho vay vốn ưu đãi, bảo vệ trước bạo lực và phân biệt đối xử.
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 đánh dấu bước ngoặt quan trọng, là đạo luật đầu tiên điều chỉnh toàn diện hoạt động trợ giúp pháp lý, thể chế hóa chủ trương của Đảng về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đặc biệt, cho người yếu thế. Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định rõ bốn nhóm được trợ giúp pháp lý, gồm (i) người nghèo; (ii) người có công với cách mạng; (iii) người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em không nơi nương tựa; (iv) người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 kế thừa và phát triển Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, hướng tới nâng cao chất lượng dịch vụ công thiết yếu, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý lên 14 nhóm đối tượng (Điều 7), đồng thời, khẳng định: “trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước nhằm giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, nâng cao hiểu biết pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội” (Điều 3).
Bên cạnh đó, các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã gắn kết chặt chẽ với chính sách trợ giúp pháp lý, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và bảo đảm công bằng xã hội. Đặc biệt, ngày 08/12/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2069/QĐ-TTg ban hành Danh mục dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu thuộc ngành Tư pháp và Quyết định số 2070/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành Tư pháp, xác định trợ giúp pháp lý là dịch vụ sự nghiệp công lập thiết yếu, được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Điều này khẳng định vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý trong cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Người thực hiện trợ giúp pháp lý trở thành chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình tố tụng, góp phần nâng cao chất lượng tranh tụng và xét xử của Tòa án.
Có thể khẳng định, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các quy định của Hiến pháp năm 2013, pháp luật chuyên ngành đã tạo cơ chế đồng bộ, nhất quán nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho mọi công dân, đặc biệt, nhóm yếu thế, hướng tới xã hội công bằng, nhân văn và phát triển bền vững.
1.4. Nguyên tắc trợ giúp pháp lý cho nhóm yếu thế
Hiện nay, hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện dựa trên các nguyên tắc quy định tại Điều 3 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, gồm: việc trợ giúp pháp lý phải tuân thủ pháp luật, được thực hiện độc lập, trung thực và tôn trọng sự thật khách quan, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp.
Mọi người được trợ giúp pháp lý đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo hay hoàn cảnh. Người thực hiện trợ giúp pháp lý không được thu phí, thù lao hay nhận lợi ích vật chất dưới bất kỳ hình thức nào, thể hiện tính nhân đạo và hỗ trợ của Nhà nước đối với người yếu thế. Bên cạnh đó, hoạt động trợ giúp pháp lý phải bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả và giữ bí mật thông tin của người được trợ giúp pháp lý và phụ thuộc lớn vào chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý/luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, cùng với cơ chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, chính quyền địa phương, tổ chức trợ giúp pháp lý và mức độ nhận thức của người dân về quyền được trợ giúp pháp lý[2].
Các nguyên tắc này hướng đến hoàn thiện cơ chế trợ giúp pháp lý công bằng, minh bạch, tạo điều kiện để mọi đối tượng yếu thế trong xã hội được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, thể hiện rõ tinh thần nhân văn, bản chất nhân đạo và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và pháp luật.
Việc quy định rõ các nguyên tắc giúp hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện đúng pháp luật, khách quan, minh bạch và hiệu quả, tránh tình trạng lợi dụng hoặc vi phạm quyền lợi của người được trợ giúp pháp lý. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để kiểm soát, đánh giá chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý, nâng cao trách nhiệm của trợ giúp viên pháp lý và cơ quan thực hiện; góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân, giúp họ hiểu, tin tưởng và chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
1.5. Chính sách trợ giúp pháp lý cho nhóm yếu thế
Chính sách trợ giúp pháp lý cho người yếu thế được hình thành và triển khai theo quy định tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Quy định này là cơ sở khẳng định nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ pháp lý, trong đó, người yếu thế như người nghèo, người khuyết tật, trẻ em, người dân tộc thiểu số, người bị buộc tội… được bảo đảm cơ hội tiếp cận công lý bình đẳng với các chủ thể khác trong xã hội. Điều 30 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những hành vi trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Điều này nhấn mạnh quyền được pháp luật bảo vệ và là cơ sở để Nhà nước tổ chức các cơ chế hỗ trợ pháp lý, bảo đảm người yếu thế có khả năng thực hiện quyền hiến định một cách hiệu quả, nhất là trong bối cảnh thường gặp hạn chế về hiểu biết pháp luật và điều kiện kinh tế. Điều 102 Hiến pháp năm 2013 khẳng định Tòa án nhân dân là “cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” và có nhiệm vụ bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Quy định này tạo nền tảng để hệ thống tư pháp phối hợp với cơ quan trợ giúp pháp lý nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý thực chất cho các nhóm yếu thế trong xã hội.
Ngoài cơ sở hiến định, chính sách trợ giúp pháp lý của Việt Nam còn gắn liền với các cam kết quốc tế về quyền con người, gồm: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), bảo đảm quyền được xét xử công bằng và quyền có người bào chữa; Công ước về quyền trẻ em (CRC) nhấn mạnh quyền được bảo vệ và được lắng nghe ý kiến trong các thủ tục pháp lý liên quan đến trẻ em; Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD) yêu cầu các quốc gia thành viên bảo đảm người khuyết tật được tiếp cận công lý bình đẳng thông qua các hình thức hỗ trợ pháp lý thích hợp.
Chính sách về trợ giúp pháp lý có tính điều chỉnh và ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều ngành luật khác, như: trong lĩnh vực hình sự và tố tụng hình sự, trợ giúp pháp lý bảo đảm quyền bào chữa miễn phí cho người bị buộc tội thuộc diện yếu thế, góp phần thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội và bảo đảm công bằng trong tố tụng. Trong dân sự và tố tụng dân sự, người yếu thế được hỗ trợ pháp lý khi tham gia các tranh chấp về hôn nhân, thừa kế, bồi thường thiệt hại, giúp họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Trong lĩnh vực hành chính và tố tụng hành chính, trợ giúp pháp lý giúp người dân có điều kiện khiếu nại, khởi kiện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, các ngành luật mang tính xã hội như Luật Trẻ em năm 2016, Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Người khuyết tật năm 2010, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 cũng chịu tác động tích cực từ chính sách trợ giúp pháp lý, thông qua việc cụ thể hóa quyền được tiếp cận pháp luật và được bảo vệ của các nhóm yếu thế.
Các chính sách về trợ giúp pháp lý gồm: (i) trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước; (ii) Nhà nước có chính sách để bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội; (iii) Nhà nước có chính sách nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý, thu hút các nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý; (iv) Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, ghi nhận và tôn vinh các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động trợ giúp pháp lý. Nhà nước xác định trợ giúp pháp lý là trách nhiệm công của mình, đồng thời, khuyến khích sự tham gia của xã hội, các tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật trong việc cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý. Nội dung này bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người thuộc diện được hưởng, giúp họ tiếp cận công lý, không bị phân biệt đối xử.
Như vậy, chính sách trợ giúp pháp lý cho người yếu thế ở Việt Nam không chỉ có cơ sở pháp lý vững chắc trong Hiến pháp năm 2013, mà còn phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, thể hiện rõ cam kết của Nhà nước trong việc bảo đảm công bằng, nhân đạo và không ai bị bỏ lại phía sau trong việc tiếp cận và thụ hưởng công lý. Đây là một trong những chính sách công, là công cụ thực hiện an sinh xã hội bằng pháp luật.
2. Thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trước khi Thành phố Hồ Chí Minh triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 1 Thành phố Hồ Chí Minh (Trung tâm) (tiền thân là Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh) hoạt động trên nền tảng tôn chỉ “trợ giúp pháp lý luôn đi cùng dân”. Tôn chỉ này trở thành định hướng xuyên suốt, chi phối phương thức tổ chức và thực thi nhiệm vụ của Trung tâm, đồng thời, tạo nên tính đặc trưng của mô hình trợ giúp pháp lý nói chung và ở đô thị đặc biệt như Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
2.1. Kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm
2.1.1. Kết quả đạt được
Những năm qua, hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều kết quả tích cực, góp phần thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội địa phương, bảo đảm hiệu quả, sự hài lòng của người được trợ giúp pháp lý, góp phần đáng kể vào thành quả chung của ngành tư pháp. Tất cả yêu cầu về trợ giúp pháp lý đều bảo đảm theo quy định của pháp luật. Kết quả thành công các vụ việc ngày càng tăng về số lượng và chất lượng. Nhiều sáng kiến, giải pháp cải tiến chuyên môn đưa vào ứng dụng đã mang lại hiệu quả cao trong công tác như “Quy trình rút ngắn thụ lý hồ sơ trợ giúp pháp lý” từ 03 ngày theo quy định xuống còn 01 ngày, nội dung này đạt giải khuyến khích tại Hội thi Cải cách thủ tục hành chính lần thứ nhất năm 2023 và được công nhận sáng kiến có phạm vi ảnh hưởng cấp Thành phố năm 2024 hay giải pháp “hỗ trợ tài chính đăng ký giấy tờ tùy thân cho trẻ em, người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn” bằng hình thức đại diện ngoài tố tụng,… giúp nhiều trẻ có giấy khai sinh, được hưởng các dịch vụ bảo hiểm y tế, chăm sóc cộng đồng, tiếp cận giáo dục và phát triển bản thân. Bên cạnh sáng kiến trong chuyên môn, Trung tâm đã chủ động tham gia đóng góp ý kiến thông qua các bài viết, tham luận khoa học tại các hội thảo, tọa đàm khoa học như: “Tiếp cận hỗ trợ tư pháp cho trẻ em và người chưa thành niên tại Thành phố Hồ Chí Minh”; “Chung tay dẹp loạn quảng cáo rao vặt trái phép tại Thành phố Hồ Chí Minh”; “Lừa đảo trực tuyến, tội phạm công nghệ cao thực trạng và giải pháp phòng ngừa tại Việt Nam”.
Với vai trò là Tổ giúp việc, thành viên của Hội đồng Phối hợp liên ngành trong hoạt động tố tụng tại Thành phố Hồ Chí Minh (Hội đồng) theo Thông tư liên tịch số 10/2018/ TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, Trung tâm tham mưu Hội đồng ký kết thành công 02 chương trình phối hợp liên ngành quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng giữa Sở Tư pháp và Công an Thành phố Hồ Chí Minh về trực trợ giúp pháp lý trong điều tra hình sự (Chương trình phối hợp số 08/CTPH-STP-CATP) nhằm bảo đảm để người thuộc diện theo quy định trong vụ án hình sự được tiếp cận trợ giúp pháp lý kịp thời từ giai đoạn đầu khi làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng và ký kết giữa Sở Tư pháp, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về người thực hiện trợ giúp pháp lý trực tại Tòa án nhân dân (Chương trình phối hợp số 4373/CTPH-STP-TAND) tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận với dịch vụ trợ giúp pháp lý; tham mưu kiện toàn Hội đồng phối hợp liên ngành (khi có sự thay đổi, luân chuyển cán bộ là thành viên Hội đồng phối hợp liên ngành); hàng năm, tham mưu chương trình tập huấn nghiệp vụ công tác phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng cho người tiến hành tố tụng trên địa bàn Thành phố; cung cấp bảng thông tin trợ giúp pháp lý, tờ thông tin về trợ giúp pháp lý, hộp tin trợ giúp pháp lý, mẫu đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý, tờ gấp pháp luật, các tài liệu pháp luật có liên quan về trợ giúp pháp lý theo nhu cầu thực tế của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Thông qua cơ chế phối hợp, Trung tâm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) để cử người tham gia tố tụng kịp thời bào chữa/bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người thuộc diện trợ giúp pháp lý; trường hợp cần xác minh diện trợ giúp pháp lý theo quy định, Trung tâm sẽ phản hồi đến cơ quan tiến hành tố tụng. Trường hợp thuộc diện trợ giúp pháp lý, Trung tâm gửi văn bản đến cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý để thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định.
Ngoài ra, thông qua các phương tiện truyền thông báo chí, mạng xã hội, Trung tâm đã chủ động tiếp cận thông tin vụ việc, điển hình như vụ bé gái 08 tuổi bị hành hạ và chết tại quận Bình Thạnh[3] hay vụ án “bắt cóc” 02 trẻ em ở phố đi bộ Nguyễn Huệ, Quận 1[4], Trung tâm đã cử trợ giúp viên tham gia và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại. Gần đây là vụ ngược đãi, bạo hành trẻ em tại Mái ấm Hoa Hồng, địa chỉ L52 Tô Ký, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, Trung tâm đã liên hệ các cơ quan tiến hành tố tụng quận 12 và Phòng Cảnh sát hình sự (PC02 - Công an Thành phố) để cử trợ giúp viên pháp lý và luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại từ giai đoạn tin báo tố giác tội phạm[5]…
![]() |
Bảng thống kê kết quả hoạt động trợ giúp pháp lý (tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và tư vấn pháp luật) từ năm 2018 đến năm 2024 cho thấy, số lượng vụ việc trợ giúp pháp lý tăng đều qua các năm, điều này phản ánh vai trò ngày càng rõ của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước trong bảo đảm quyền được bào chữa, quyền tiếp cận công lý cho người yếu thế, đặc biệt, sau khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có hiệu lực thi hành, các quy trình phối hợp được hoàn thiện hơn; khẳng định vai trò, uy tín, sự quan tâm phối hợp giữa các đơn vị và người dân trong thực thi nhiệm vụ.
Mô hình tư vấn pháp luật ngoài trụ sở (truyền thông và thực hiện trợ giúp pháp lý ở cơ sở) được hình thành và triển khai từ giai đoạn thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 (trợ giúp pháp lý lưu động), với mục tiêu mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nơi không có tổ chức trợ giúp pháp lý thường trú. Đến Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 không quy định cụ thể về hình thức trợ giúp pháp lý lưu động nhưng trên thực tế, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 1 Thành phố Hồ Chí Minh đã vận dụng linh hoạt và phát triển mô hình này như một biện pháp tổ chức thực hiện chính sách, bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người yếu thế.
Trung tâm tham mưu Sở Tư pháp ban hành Kế hoạch truyền thông và trợ giúp pháp lý ở cơ sở, đưa ra phương thức tiếp cận phù hợp với người dân trên địa bàn Thành phố, nhất là tại các khu vực vùng ven, nơi có nhiều người dân gặp khó khăn về pháp lý, có tranh chấp, khiếu kiện hoặc trường học, mái ấm, nhà mở, cơ sở bảo trợ nơi có nhiều đối tượng yếu thế sinh sống,… Đồng thời, xây dựng tiêu chí[6] thực hiện gắn với cơ chế “điểm cộng” làm cơ sở công tác đánh giá hiệu quả hoạt động của các Phòng Tư pháp. Nội dung này được công nhận là sáng kiến linh hoạt, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua, khuyến khích mở rộng phạm vi và chất lượng phục vụ về trợ giúp pháp lý, hình thành sự gắn kết giữa Trung tâm và chính quyền cơ sở, đặc biệt là Ủy ban nhân dân phường/ xã và Phòng Tư pháp quận/huyện (trước ngày 01/7/2025). Đây là một trong những hình thức cơ bản và thiết thực để đưa pháp luật đến với người dân Thành phố nói chung và nhóm yếu thế nói riêng, nhiều vướng mắc về pháp luật của người dân đã được giải đáp kịp thời, tránh rủi ro pháp lý trong từng trường hợp cụ thể, nhờ có đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý.
Kết quả từ năm 2017 đến tháng 6/2025, Trung tâm tổ chức trên 1.300 đợt tuyên truyền và thực hiện trợ giúp pháp lý ở cơ sở, thu hút trên 55.000 người tham dự, tư vấn pháp luật theo yêu cầu trên 35.000 người/vụ việc, kết hợp báo cáo chuyên đề pháp luật, sân khấu hóa tình huống pháp luật bằng phiên tòa giả định với các chủ đề như “Nói không với bạo lực học đường”, “Bạo lực giới”, “Nói không với xâm hại trẻ em”, “Giao thông đường bộ”… Ngoài ra, Trung tâm thành lập Tổ diễn án phiên tòa giả định theo Quyết định số 27/QĐ-TGPL ngày 22/10/2024 về việc thành lập Tổ diễn án phiên tòa giả định của Trung tâm và Kế hoạch số 31/KH-TGPL ngày 22/10/2024 về nâng cao chất lượng tuyên truyền và thực hiện trợ giúp pháp lý ở cơ sở qua hình thức tư vấn pháp luật và tổ chức phiên tòa giả định nhằm mục đích đa dạng hóa các phương thức, nội dung sinh động, trực quan cho người dân dễ nhớ, thấm sâu, tuân thủ pháp luật bảo đảm quyền của người dân. Cụ thể:
![]() |
Từ số liệu trên cho thấy, số lượng cuộc tuyên truyền đã tăng dần qua từng năm, đã phản ánh nhu cầu ngày càng cao của người dân trong việc được tư vấn, giải đáp pháp luật, đặc biệt, trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân, đất đai, lao động… Đặc biệt, trong năm 2024, đã tổ chức được 379 cuộc tại 21 quận/huyện và thành phố Thủ Đức, thu hút 565.515 người tham dự, tư vấn theo yêu cầu 3.122 vụ việc/người và kết hợp cấp phát tờ gấp tuyên truyền pháp luật cho người dân. Thông qua nội dung tuyên truyền ở cơ sở, pháp luật trở nên gần gũi, dễ hiểu, góp phần hạn chế tối đa tình trạng khiếu nại vượt cấp của người dân, giúp họ lựa chọn cách ứng xử và hành động phù hợp quy định pháp luật, hình thành thói quen “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, giúp công tác phòng ngừa tội phạm đạt hiệu quả tốt hơn và nội dung này được công nhận sáng kiến có phạm vi ảnh hưởng cấp cơ sở.
Từ ngày 01/7/2025, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, Trung tâm đã chủ động tham mưu Sở Tư pháp ban hành Kế hoạch[7] điều chỉnh để phù hợp theo mô hình chính quyền mới (áp dụng tiêu chí thi đua về cấp xã/phường, phối hợp trực tiếp Trung tâm và Ủy ban nhân dân xã, phường để thực hiện truyền thông), về cơ bản vẫn áp dụng theo khung tiêu chí thi đua nhưng nội dung linh hoạt để giảm tải áp lực ở cấp cơ sở.
2.1.2. Bài học kinh nghiệm
Một là, nâng cao vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương: việc nâng cao chất lượng phong trào thi đua trong lĩnh vực truyền thông và thực hiện trợ giúp pháp lý ở cơ sở thông qua cơ chế “điểm cộng” đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy các địa phương chủ động, tích cực hơn trong tổ chức và phối hợp các hoạt động truyền thông về trợ giúp pháp lý. Cách làm này góp phần tăng cường hiệu quả phối hợp giữa các đơn vị ở cơ sở, đồng thời là tiêu chí cụ thể để đánh giá kết quả thi đua, khen thưởng trong công tác trợ giúp pháp lý nói riêng và của ngành Tư pháp nói chung.
Hai là, giúp người dân tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí: việc đẩy mạnh phong trào thi đua trong lĩnh vực truyền thông và thực hiện trợ giúp pháp lý ở cơ sở đã góp phần tăng đáng kể số lượng các cuộc truyền thông và vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện tại địa phương, qua đó, từng bước tạo nền tảng vững chắc để người dân Thành phố có điều kiện tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí thuận lợi, bình đẳng và hiệu quả hơn. Hoạt động này không chỉ nâng cao mức độ nhận diện của người dân về trợ giúp pháp lý, mà còn góp phần bảo đảm 100% người thuộc diện được trợ giúp pháp lý khi có nhu cầu đều được tiếp cận, hỗ trợ kịp thời, đúng với phương châm “trợ giúp pháp lý luôn luôn đi cùng dân”.
Ba là, góp phần phòng, chống tội phạm và bạo lực xã hội: hoạt động tăng cường phối hợp hướng về cơ sở đã nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý, trở thành một trong những giải pháp thiết thực để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đặc biệt là những người thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật, qua đó, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và giảm thiểu các hành vi vi phạm pháp luật, bạo lực và xâm hại; góp phần phòng, chống hiệu quả các hành vi bạo lực gia đình, bạo lực học đường, xâm hại tình dục trẻ em, bạo hành phụ nữ và các loại tội phạm xâm phạm quyền con người.
Bốn là, đưa pháp luật vào đời sống bằng hình thức “sân khấu hóa”: mô hình “phiên tòa giả định” đã trở thành phương thức truyền thông pháp luật hiệu quả, gần gũi và dễ tiếp nhận. Bằng việc tái hiện các tình huống, vụ việc vi phạm pháp luật một cách chân thực và sinh động từ những vụ án có thật, người xem, đặc biệt là học sinh, sinh viên và người dân ở cơ sở có cơ hội tiếp cận, quan sát và hiểu sâu hơn về hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm, từ đó, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, phòng ngừa vi phạm và bạo lực xã hội góp phần đưa pháp luật đến gần hơn với đời sống xã hội, tăng cường tương tác và lan tỏa nhận thức pháp luật trong cộng đồng, hướng đến xây dựng nếp sống thượng tôn pháp luật. Hình thức này không chỉ giúp truyền tải nhanh chóng và hiệu quả chính sách, pháp luật, mà còn tạo kênh tiếp cận trực tiếp để người dân, học sinh được tư vấn, giải đáp tại chỗ các vướng mắc pháp lý liên quan đến đời sống hàng ngày.
2.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Thời gian qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều kết quả tích cực, bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai còn tồn tại một số bất cập, hạn chế nhất định và được khái quát theo những nhóm vấn đề sau:
Một là, tiêu chí xác định đối tượng còn cứng nhắc. Tại các thành phố lớn, có một bộ phận không nhỏ người lao động nhập cư, công nhân, người thuê trọ hoặc người không có nơi cư trú ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nhưng không được công nhận là hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo do không đáp ứng điều kiện về cư trú. Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định người có khó khăn về tài chính gồm người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Quy định này dẫn đến một bộ phận không nhỏ người yếu thế không được tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí, tạo khoảng trống trong việc bảo đảm quyền lợi của họ, làm hạn chế hiệu quả chính sách bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của công dân, đặc biệt là nhóm yếu thế trong xã hội.
Hai là, thủ tục xác minh đối tượng còn phức tạp, mất nhiều thời gian. Một trong những khó khăn phổ biến hiện nay là việc xác minh người thuộc diện trợ giúp pháp lý mất nhiều thời gian do phải thực hiện qua đường văn bản giữa các địa phương, dẫn đến chậm trễ trong quy trình cử người tham gia tố tụng để thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc cung cấp dịch vụ pháp lý. Nguyên nhân chính là chưa có sự kết nối dữ liệu thống nhất, nên thời gian xác minh kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ thụ lý vụ việc, đặc biệt, trong các trường hợp khẩn cấp như bị bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc các vụ việc hình sự liên quan đến người yếu thế. Ngoài ra, một số cơ quan, tổ chức chậm phản hồi hoặc thiếu phối hợp cũng làm giảm hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Ba là, sự phối hợp giữa chính quyền địa phương, tổ chức có liên quan chưa chặt chẽ. Hoạt động trợ giúp pháp lý có sự tham gia của nhiều cơ quan như chính quyền địa phương, cơ quan bảo trợ xã hội… để tuyên truyền đến người yếu thế, đặc biệt là người lao động nhập cư, người dân tại khu vực ngoại thành, người khuyết tật… một số nơi chưa được thường xuyên, sâu, rộng dẫn đến một bộ phận người dân chưa hiểu đúng về trợ giúp pháp lý, điều kiện để được trợ giúp pháp lý trong các hoạt động tố tụng nên chưa thực sự tin tưởng về công tác trợ giúp pháp lý miễn phí. Cụ thể, việc giới thiệu, chuyển thông tin đối tượng yếu thế chưa kịp thời, đầy đủ, dẫn đến khó khăn trong việc quản lý, theo dõi và đánh giá hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý giới thiệu về Trung tâm theo quy định tại Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 25/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý; Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý rất hiếm và không có. Hiện nay, người dân thường chủ động tìm đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 1 Thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu trợ giúp.
Bốn là, quy định pháp luật chưa bao quát hết các tình huống thực tế như người thuộc diện trợ giúp pháp lý đã chết: khoản 2 Điều 30 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định: “… khi người được trợ giúp pháp lý đã chết, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phải từ chối thụ lý việc”.
Trên thực tế, không ít trường hợp người bị hại trong vụ án hình sự (người nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, nạn nhân trong các vụ tai nạn giao thông, bạo lực gia đình…) chết trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử; theo quy định trên, Trung tâm phải chấm dứt việc tham gia khi người được trợ giúp pháp lý qua đời, dẫn đến khoảng trống pháp lý, không có cơ chế cho phép người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị hại được tiếp tục hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí, đặc biệt, đối với những trường hợp khó khăn thì ảnh hưởng đến quyền tiếp cận công lý của thân nhân người bị hại và giảm tính nhân văn của chính sách trợ giúp pháp lý.
3. Kiến nghị, đề xuất nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản hướng dẫn đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng cho việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người yếu thế. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, còn một số vấn đề chồng chéo, thiếu tính khả thi ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành pháp luật. Ngoài ra, hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế cần phải đặt trong phương thức truyền đạt tương tác đa chiều, lấy nhu cầu, tâm lý, khả năng tiếp nhận của người yếu thế làm trung tâm; đội ngũ trợ giúp viên pháp lý không chỉ giỏi chuyên môn, mà cần thành thạo kỹ năng truyền thông và sư phạm pháp lý,… Bởi lẽ, trợ giúp pháp lý không chỉ dừng ở việc giải quyết vụ việc pháp lý cụ thể, mà còn là cơ hội trực tiếp để phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tư vấn, các phiên tòa giả định, và việc tiếp xúc với người bị buộc tội… Khi người yếu thế được hướng dẫn, giải thích, hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, họ không chỉ được bảo vệ bằng pháp luật, mà còn biết tự bảo vệ mình bằng kiến thức pháp luật. Đây là giá trị cốt lõi và bền vững nhất của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với trợ giúp pháp lý.
Để nâng cao khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, đặc biệt là nhóm yếu thế trong xã hội, cần tập trung vào việc hoàn thiện thể chế và nâng cao nhận thức người dân. Cụ thể:
3.1. Hoàn thiện thể chế pháp luật
Một là, hoàn thiện tiêu chí xác định đối tượng “người có khó khăn về tài chính”, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 theo hướng mở rộng và linh hoạt hơn để phù hợp với điều kiện thực tế của người yếu thế tại đô thị, bảo đảm bao quát được những trường hợp khó khăn nhưng không được công nhận chính thức trong hệ thống hộ nghèo, hộ cận nghèo.
Hai là, quy định về việc ứng dụng công nghệ trong xác minh đối tượng được trợ giúp pháp lý. Đây là cơ sở để tăng cường ứng dụng công nghệ bằng tích hợp dữ liệu về người thuộc diện được trợ giúp pháp lý miễn phí vào cơ sở dự liệu quốc gia về dân cư và định danh điện tử cá nhân (VNeID). Điều này sẽ giúp người dân nói chung và người thuộc diện trợ giúp pháp lý, trong đó có người yếu thế, được hưởng các tiện ích, an sinh xã hội do Nhà nước mang lại, trong đó có trợ giúp pháp lý miễn phí. Đồng thời, sẽ giúp các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng, chính quyền địa phương có thể kiểm tra, xác minh ngay trên hệ thống điện tử, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, bảo đảm quyền của người dân được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả.
Ba là, luật hóa trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã: phát huy vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã về phối hợp xác minh, hỗ trợ và giới thiệu người thuộc diện trợ giúp pháp lý (theo quy định) về Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh[8] nói riêng và Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước ở các địa phương nói chung trong trường hợp có phát sinh các vấn đề liên quan đến pháp luật theo hướng dẫn tại Mẫu số 13 Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 25/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý; Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý.
Bốn là, bổ sung quy định về kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người được trợ giúp pháp lý đã chết: đối với trường hợp người được trợ giúp pháp lý là bị hại trong vụ án hình sự chết trong quá trình giải quyết vụ án thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý được tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý cho người đại diện hợp pháp hoặc thân nhân của bị hại để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án, trừ trường hợp họ từ chối nhận trợ giúp pháp lý. Theo đó, xây dựng cơ sở pháp lý rõ ràng, quy định phạm vi và điều kiện kế thừa để có cở sở cho Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước địa phương được tiếp tục cử trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư tham gia vụ án nhằm bảo đảm quyền lợi của người được kế thừa và người bị hại đã chết. Về phía cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm chấp thuận và ghi nhận tư cách tham gia tố tụng của người được kế thừa quyền trợ giúp pháp lý, bảo đảm sự tham gia liên tục của Trung tâm trong vụ án.
3.2. Nâng cao nhận thức người dân về trợ giúp pháp lý
Một là, Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị có quy mô dân cư và nhu cầu trợ giúp pháp lý lớn, do đó, cần đa dạng hóa hình thức tuyên truyền về trợ giúp pháp lý như: xây dựng chuyên mục trợ giúp pháp lý trên các phương tiện truyền thông (báo hình, báo nói, báo giấy,…) và mạng xã hội (facebook, zalo,…); cấp phát tờ gấp, cẩm nang trợ giúp pháp lý, bảng thông tin trợ giúp pháp lý miễn phí tại các khu vực đông dân cư (chợ, trường học, bệnh viện, trạm xe buýt, ga tàu, bến xe,...), đặc biệt, ở khu vực có nhiều người dân nhập cư, đồng bào Khmer, Hoa,… sinh sống để lan tỏa rộng rãi quyền lợi của người dân.
Hai là, tăng cường phối hợp các đoàn thể chính trị - xã hội, doanh nghiệp địa phương, trường học để lồng ghép hoạt động trợ giúp pháp lý trực quan gần gũi với người lao động, công nhân, học sinh,…. Khuyến khích hình thành “Đại sứ trợ giúp pháp lý” ở cộng đồng là cán bộ địa phương, luật sư, trợ giúp viên đang sống tại địa phương.
Ba là, tổ chức tập huấn nghiệp vụ thông qua các hội nghị phối hợp liên ngành giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; báo cáo chuyên đề pháp luật về trợ giúp pháp lý ở địa phương để người dân nắm bắt được nội dung cơ bản của pháp luật về trợ giúp pháp lý.
Kết luận
Nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý cho người yếu thế không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn, mà còn là trách nhiệm xã hội của các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung.
Để công tác này thực sự hiệu quả, cần có sự tham gia của cả hệ thống chính trị đối với mục tiêu nhân văn “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong tiếp cận pháp luật, đặc biệt, cần có sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của cấp ủy, chính quyền, cùng với nguồn lực đầu tư, cơ chế phối hợp và đổi mới phương thức thực hiện. Khi người yếu thế được tiếp cận pháp luật thuận lợi, được hỗ trợ đúng lúc, họ sẽ tự tin hơn trong cuộc sống, bảo đảm an ninh, trật tự xã hội, phòng ngừa tội phạm, hình thành thói quen “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và xã hội công bằng, dân chủ và văn minh./.
TS. Huỳnh Tấn Đạt & ThS. Nguyễn Thị Thu Hiền
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 1 Thành phố Hồ Chí Minh
Ảnh: Internet
[1]. Xem Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
[2]. TS. Đặng Hoàng Oanh (chủ biên, 2018), Trợ giúp pháp lý Việt Nam - Thực trạng và định hướng phát triển, Nxb. Tư pháp, tr. 65 - 67.
[3]. Toàn cảnh vụ bé gái 08 tuổi tử vong vì bị “dì ghẻ” bạo hành, https://vietnamnet.vn/su-kien/toan-canh-vu-be-gai-8-tuoi-tu-vong-vi-bi-di-ghe-bao-hanh-805050.html, truy cập ngày 14/11/2025.
[4]. Vụ “bắt cóc” 02 bé gái ở phố đi bộ Nguyễn Huệ, bị cáo lãnh 9 năm tù, https://thanhnien.vn/vu-bat-coc-2-be-gai-o-pho-di-bo-nguyen-hue-bi-cao-lanh-9-nam-tu-185240807100450246.htm, truy cập ngày 14/11/2025.
[5]. Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị cử trợ giúp viên bảo vệ trẻ bị bạo hành tại mái ấm Hoa Hồng, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=752&l=Hoatdongcuadiaphuong, truy cập ngày 14/9/2025.
[6]. Thang điểm tổng thể là 10 điểm, gồm: (i) tổ chức họp giao ban công tác trợ giúp pháp lý định kỳ (02 điểm); (ii) xây dựng kế hoạch trợ giúp pháp lý ở cơ sở gắn với nhu cầu thực tế (01 điểm); (iii) tổ chức ít nhất 01 cuộc trợ giúp pháp lý/năm tại các khu vực có nhiều người dân gặp khó khăn về pháp lý, có tranh chấp, khiếu kiện hoặc tại những cơ sở xã hội như trường học, mái ấm, nhà mở, cơ sở bảo trợ, dành cho các nhóm yếu thế như người khuyết tật, trẻ em, người nhiễm HIV/AIDS (02 điểm); (iv) cấp cơ sở tổ chức từ đợt trợ giúp pháp lý thứ hai trở lên theo nhu cầu của người dân, có phối hợp với Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và luật sư, trợ giúp viên pháp lý (01 điểm); (v) khuyến khích tổ chức từ đợt thứ ba trở lên theo nhu cầu thực tế, chú trọng các khu vực có nhiều lao động nhập cư, tranh chấp đất đai, công nhân, người thu nhập thấp (được cộng 0,5 điểm/cuộc, tối đa 05 điểm); (vi) phối hợp, hỗ trợ Trung tâm tổ chức trợ giúp pháp lý ở cơ sở (02 điểm); (vii) thực hiện chế độ báo cáo, tổng kết định kỳ (02 điểm).
[7]. Kế hoạch số 2337/KH-STP-PBGDPL ngày 20/8/2025 của Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh.
[8]. Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 1, địa chỉ 470 Nguyễn Tri Phương, phường Vườn Lài; Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 2, địa chỉ số 469 Đại lộ Bình Dương, phường Phú Cường; Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3, địa chỉ số 137 Đường 27/4 phường Phước Trung.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Toàn cảnh vụ bé gái 8 tuổi tử vong vì bị “dì ghẻ” bạo hành, https://vietnamnet.vn/su-kien/toan-canh-vu-be-gai-8-tuoi-tu-vong-vi-bi-di-ghe-bao-hanh-805050.html, truy cập ngày 14/11/2025.
2. Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước TP.HCM đề nghị cử trợ giúp viên bảo vệ trẻ bị bạo hành tại mái ấm Hoa Hồng, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=752&l=Hoatdongcuadiaphuong, truy cập ngày 14/11/2025.
3. TS. Đặng Hoàng Oanh (chủ biên, 2018), Trợ giúp pháp lý Việt Nam - Thực trạng và định hướng phát triển, Nxb. Tư pháp.
4. Phan Thương - Mỹ Diệp (2024), Vụ “bắt cóc” 2 bé gái ở phố đi bộ Nguyễn Huệ, bị cáo lãnh 09 năm tù, https://thanhnien.vn/vu-bat-coc-2-be-gai-o-pho-di-bo-nguyen-hue-bi-cao-lanh-9-nam-tu-185240807100450246.htm, truy cập ngày 14/11/2025.
(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý” năm 2025)
Nguồn tin: danchuphapluat.vn
-
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý
-
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp
-
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý
-
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023
-
Cập nhật ngay mức phạt mới về thuế, hóa đơn tại Nghị định 310/2025/NĐ-CP
-
Hoàn thiện thể chế qua đợt tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật










